Lịch sử sáng tạo tác phẩm như một vấn đề nghiên cưu

Lịch sử sáng tạo tác phẩm văn học 
một vấn đề khoa học
(phần 1)

    Khi văn học phát triển đến giai đoạn chín muồi thì ý thức về nghề nghiệp và quá trình sáng tạo nảy sinh. Vào những lúc văn thơ chỉ mới được xem như phương tiện thổ lộ tâm tình, phô bày chí khí thì người ta mới chú ý tới câu chữ, âm điệu, tâm sự, tấm lòng. Trong các giai đoạn mà văn học được xem như phương tiện tác động rộng lớn tới toàn xã hội là phương tiện của nhận thức và tiến bộ thì người ta phải suy ngẫm tới bản thân cách sáng tạo diễn ngôn của nhà văn, tương quan giữa các hình thức khái quát, các quy luật thể loại, ngôn ngữ với kiến tạo chân lý đời sống. Chính vì lẽ đó mà ngày nay việc tìm hiểu lao động của nhà văn là quá trình sáng tạo tác phẩm đã trở thành một lĩnh vực rộng lớn của nghiên cứu văn học. Khoa học về văn học hôm nay đâu còn chỉ đóng khung trong việc phân tích nội dung và hình thức của tác phẩm trong dạng đã hoàn thành, đánh giá ý nghĩa phản ánh cuộc sống, xem xét giá trị sáng tạo nghệ thuật, trình bày quá trình tiếp thụ, phê bình các thế hệ độc giả. Đó mới chỉ là những gì liên quan tới cái phần bề nổi của tác phẩm đã hoàn thành. Còn cả một quá trình sáng tạo năng động có khi kéo dài hàng chục năm của một tác phẩm, những dự kiến thay đổi, những bản thảo bị dập xoá, các dị bản bị phế bỏ, những tìm tòi, dằn vặt, căng thẳng và đau đớn, những phong ba xã hội, những tác động của tư tưởng đời sống,… tất cả những gì đã trở thành quá khứ của tác phẩm, cái phần chìm của tảng băng trôi cũng là một đối tượng quan trọng của nghiên cứu văn học,… Chính cái phần bị khuất vào bóng tối, dễ dàng đi vào lãng quên ấy lại nói nhiều về nhà văn và lịch sử văn học, giúp ta hiểu rõ thêm tác phẩm.

     Văn học đã xuất hiện và tồn tại hàng nghìn năm nay nhưng không phải con người đã nhận thức nhất trí và sáng tỏ về mọi khía cạnh thuộc bản chất, đặc trưng bí ẩn của lao động nghệ thuật. Cho đến nay, đây vẫn còn là lĩnh vực đấu tranh gay gắt của các quan điểm triết học đủ loại và các trực giác thiên tài về lao động nghệ thuật([1]). Và trong thời đại phát triển bão táp của khoa học sáng tạo nghệ thuật sẽ cho thấy những khả năng sáng tạo vô song của con người, cũng như tính chất không thể thay thế của lịch sử sáng tạo nghệ thuật([2]). Giờ đây khoa học có thể cung cấp một quan niệm khoa học về đặc điểm tâm lý của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, về mối quan hệ giữa các phần vô thức và hữu thức trong sáng tác, về các giai đoạn của quá trình sáng tác và các công việc chung của nghề văn. Về mặt này, bạn đọc có thể tìm hiểu qua những công trình tổng kết đã dịch ra tiếng Việt như Lao động của nhà văn của A. Xâylin([3]) hay Tâm lý học sáng tạo văn học của M. Arnauđốp, hoặc những công trình nhẹ nhàng hơn như Công việc của nhà văn của Ilia Êrenbua([4]), Bông hồng vàng của K. Pauxtốpxki([5]) là có được những ý niệm bước đầu về một ngành lao động mà thoạt nhìn không phải bao giờ người ta cũng có một quan niệm đúng đắn. Dĩ nhiên các công trình ấy ngày nay cũng có nhiều quan điểm đã cũ, song các ví dụ cụ thể trong đó có thể nhìn nhận lại theo cách mới.

      Nghệ thuật không phải là thứ có thể sáng tạo hàng loạt, một tác phẩm nghệ thuật thực sự là một sinh thể độc đáo không thể có hai. Vì vậy lao động nhà văn là thứ lao động cá thể và cụ thể nhất, không những cá thể hoá đến từng nhà văn mà còn cụ thể hoá đến từng thời kỳ sáng tác, từng tác phẩm riêng biệt. Tác phẩm văn học có thể đa dạng đến mức nào thì con đường lao động độc đáo mà chỉ một mình nhà văn trong thời điểm nào đó có thể vượt qua để mang lại cho ta một giá trị vĩnh cửu, cũng đa dạng đến mức ấy. Với sự phát triển ý thức về cá nhân, những con đường lao động sáng tạo của nhà văn có thể nói là vô hạn. Lao động nhà văn là một thế giới đang mở ra mà những sự tổng kết, quy nạp thường dễ dàng làm mất đi cái tinh tuý, vì cái tinh tuý ở đây lại là cái độc đáo. Mặt khác nghiên cứu, học tập lao động của các nhà văn có thành tựu không phải là để bắt chước đi theo đường mòn, mà là để phát huy, nuôi dưỡng cái riêng sáng tạo của mỗi người, vì thế sự tìm hiểu lao động nhà văn cũng không hề biết đến giới hạn. Vậy là một lĩnh vực nghiên cứu văn học mở ra : nghiên cứu mọi quá trình lao động sáng tạo văn học có thành quả, nghiên cứu lịch sử sáng tác của các tác phẩm văn học có đóng góp cho văn học dân tộc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay của nước ta, khi sự xây dựng một nền văn học kiểu  mới vừa nảy sinh chưa lâu, nhất là khi văn học đang chuyển mình đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một thời kỳ lịch sử mới của dân tộc.

     Công việc của nhà văn và lịch sử sáng tạo tác phẩm văn học bao giờ cũng gắn liền với các đặc điểm của thời đại lịch sử, của giai đoạn văn học, đặc biệt là gắn liền với nếp tư duy nghệ thuật của nhà văn, trình độ phát triển của cá tính sáng tạo, tính độc đáo của truyền thống. Vì vậy, nghiên cứu các quá trình lao động sáng tạo cụ thể này sẽ cung cấp một cuốn lịch sử văn học độc đáo – lịch sử hình thành của những đề tài, chủ đề, lịch sử ra đời của các quan niệm văn học, phong cách văn học, xuất hiện của cá tính sáng tạo, thể loại văn học, cụ thể đến từng khâu nhỏ nhất. Một cuốn lịch sử văn học kiểu đó chẳng những là sự biểu dương lao động cao quý của nghề văn, nhà văn, là trường học sáng tạo cho các nhà văn trẻ, mà còn cung cấp cho ta bao nhiêu tài liệu quý để nâng cao trình độ ý thức về văn học và nghề văn. Một cuốn lịch sử kiểu đó về các giai đoạn văn học của Việt Nam vừa qua lại càng bức thiết hơn, thôi thúc hơn, bởi vì nguồn tư liệu phong phú, những người trực tiếp chứng kiến quá trình văn học cách mạng đang hứa hẹn những sự thực chưa được khai thác, và chúng có thể bỗng chốc tiêu tan nếu ta không kịp thời tìm kiếm, gìn giữ,… Nó sẽ giúp chúng ta biết quý trọng từng trang bản thảo của nhà văn, những chứng tích thư từ, những mẩu hồi ký,… Trên một phạm vi rộng lớn hơn, việc tìm hiểu lao động của các nhà văn lớn và lịch sử các tác phẩm văn học vĩ đại của nhân loại xưa nay sẽ góp phần mở rộng rất nhiều nhãn quan văn học của chúng ta.

    Về các phương diện đó, nghiên cứu văn học tiến bộ trên thế giới nói chung, trước hết là nghiên cứu văn học Nga sẽ cung cấp cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu.

    Có lẽ các nhà nghiên cứu văn học Nga là những người hăng hái bậc nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này. Hiển nhiên từ xưa, lịch sử văn học Đông Tây đã biết đến những tấm gương lao động văn học và bản thân các nghệ sĩ ngôn từ cũng có ý thức ghi lại phần nào lịch sử tác phẩm qua các bài tựa, hồi ký, hoặc các cuộc chuyện trò. Nhưng xem điều kiện sáng tạo và lịch sử hình thành tác phẩm như một đối tượng nghiên cứu khoa học lại là một tư tưởng xuất hiện chưa lâu. Trong nghiên cứu văn học Nga thời Xô viết, N. K. Picxanốp là người đầu tiên xem đó là một môn khoa học khi đề xuất năm 1922 tại Viện hàn lâm Nghệ thuật Nga. Người ta có thể tranh luận xem đó đã phải là một lĩnh vực, một loại hình, hay thể loại nghiên cứu văn học hay chưa, thì bản thân đề xuất đó đã được hưởng ứng rộng rãi. Hiển nhiên phạm vi nghiên cứu không đóng khung trong vấn đề lịch sử sáng tạo mà bao hàm cả đặc điểm lao động nhà văn và tư duy nghệ thuật. Từ đó đến nay các loại công trình theo hướng này đã xuất hiện phổ biến. Chỉ tính đến năm 1966, riêng số công trình nghiên cứu lịch sử sáng tác các tác phẩm và lịch sử nghệ thuật của L. Tônxtôi ở Liên Xô đã lên tới con số 600(1). Người ta có thể gọi công việc đó bằng những tên rất khác nhau như “quá trình sáng tạo”, “bếp núc sáng tạo”, “phòng thí nghiệm sáng tạo”, “nghệ thuật của nhà văn”, “công việc của nhà văn,…” nhưng chung quy là quan tâm tìm hiểu quá trình sinh thành và hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật cụ thể bắt đầu từ tiền sử, ý đồ ban đầu, quá trình thai nghén, việc sử dụng nguyên mẫu, tổ chức kết cấu, sự xác định tư tưởng và phong cách, các loại ảnh hưởng, quá trình biến động và sửa chữa,… Có thể kể đến tên một số công trình loại đó như Gôgôn đã làm việc như thế nào của V. Vêrêxaép (1932), Tônxtôi đã làm việc như thế nào của N. Gutzi (1936), Công việc sáng tác của L. Tônxtôi của L. Mưscốpxkaia (1931), Goethe, Schiller, Heine đã làm việc như thế nào của A. Gornơphen (1933), Balzac đã làm như thế nào của B. Grípxốp (1937), Xưởng sáng tác của Zola của B. Aykhengôn (1940), Lịch sử sáng tác tiểu thuyết “Gia đình áctamônốp” của V. Mácximôva (1949), “Sông Đông êm đềm” được sáng tác như thế nào của V. Gura (1980), Bếp núc sáng tạo của nhà viết kịch M. Goócki của V. Nôvicốp (1976),… Các công trình nói về kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn Việt Nam như Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Đồ Phồn, Tế Hanh, Xuân Diệu,… các công trình Hỏi chuyện nhà văn của Nguyễn Công Hoan, Gương mặt còn lại -Nguyễn Thi của Nhị Ca,… cũng đều đề cập tới nhiều khía cạnh lao động nhà văn và lịch sử sáng tạo tác phẩm.

     Việc tìm hiểu lao động nhà văn và lịch sử sáng tạo tác phẩm đòi hỏi phải tái hiện chính xác những việc làm và các giai đoạn làm nên tác phẩm. Nhưng đó không chỉ giản đơn là việc lần theo dấu vết nguyên mẫu, kể lại lai lịch cốt truyện, việc sửa chữa câu này chữ nọ, mà cái chính là phát hiện cách tư duy của tác giả, sự hình thành cách hiểu của tác giả đối với đời sống cũng như ý thức về bút pháp, phong cách, thể loại,… Đó mới thực sự là ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử nhà văn và lịch sử tác phẩm. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật là gì nếu không phải là sự ý thức về cuộc sống và về nghệ thuật ?

     1. Chiến tranh và hòa bình của Tolstoi

Trong việc nghiên cứu lịch sử sáng tạo tác phẩm, thì tìm hiểu ý đồ tư tưởng nghệ thuật của tác giả có một ý nghĩa quan trọng bậc nhất, bởi vì nếu không hiểu đúng được ý đồ thì cũng không thể hiểu đúng được kết quả sáng tạo. Hiển nhiên ý đồ sáng tạo không phải là tĩnh tại, cứng nhắc, mà vận động, biến đổi trong quá trình suy tư, tính toán của tác giả. Chẳng hạn, theo L. Mưscốpxkaia, tìm hiểu được ý đồ của tác giả sẽ giúp ta hiểu đúng hơn tư tưởng của tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình. Khi tác phẩm xuất hiện, báo chí cấp tiến đương thời đã trách cứ L. Tônxtôi là trong tác phẩm đồ sộ ấy thiếu hẳn dấu vết của hiện thực thảm khốc của chế độ nông nô, một đặc trưng nổi bật của thời đại mà nhà văn mô tả trong tác phẩm. Dường như nhà văn vào thời kỳ sáng tác chín muồi nhất lại hoá ra có xu hướng tô hồng hiện thực. Thực ra xét theo cá tính sáng tạo của Tônxtôi thời trẻ, nhà văn đã có khuynh hướng miêu tả hiện thực theo lối phơi bày sự thật xã hội một cách nghiệt ngã. Chẳng hạn như Buổi sáng của một trang chủ là một ví dụ. Nghiên cứu bản nháp của Chiến tranh và hoà bình người ta lại càng xác nhận điều đó. Trong các dị bản đầu tiên của tác phẩm, L. Tônxtôi đã chú ý miêu tả nhiều cảnh tượng, tình tiết thể hiện các phương diện đen tối của đời sống hiện thực gắn liền với chế độ nông nô. Những cảnh ấy vừa xảy ra với các nhân vật tồi tệ thấp hèn lẫn với các nhân vật lớp trên có thể diện. Chúng bộc lộ quan hệ giai cấp giữa địa chủ và nông nô, sĩ quan và binh lính, thể hiện một chủ đề không có trong văn bản cuối cùng. Vì sao như vậy ? Có thể vì tư tưởng nhà văn ở những năm tám mươi của thế kỷ XIX, vẫn còn hy vọng xây dựng quan hệ có đi có lại giữa hai giai cấp. Nhưng cái chính là khuynh hướng và tư tưởng của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo của Chiến tranh và hoà bình, chất kết dính toàn bộ tiểu thuyết, cái tư tưởng chi phối sự vận động cốt truyện và miêu tả số phận các nhân vật là niềm tin say đắm của tác giả vào tư tưởng cho rằng thời đại mà ông miêu tả là thời đại nảy nở cao nhất của đạo đức nhân dân, là thời kỳ phục hưng của toàn dân Nga, đã đưa họ tới chiến công cứu nước. Theo nhà nghiên cứu, đối với Tônxtôi, nhiệm vụ quan trọng nhất của tiểu thuyết là thể hiện tư tưởng về nhân dân, về sức mạnh của họ, lòng dũng cảm và chiến công của họ trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812. Việc miêu tả sâu đậm sự khổ đau của nhân dân dưới chế độ nông nô sẽ làm phương hại cho tư tưởng  về sự thống nhất của nhân dân, nên phải lùi chúng xuống hàng thứ yếu. Đó là một sự hy sinh cho  chủ đề quan trọng nhất của nhà văn. Dĩ nhiên là trong toàn tác phẩm vẫn thấm nhuần tinh thần dân chủ và dân tộc đậm đà, bởi vì tác giả đã đặt nhân dân ở một vị trí rất cao. Như vậy nghiên cứu quá trình sáng tạo cho thấy khuynh hướng tư tưởng nhà văn và sự lựa chọn bắt buộc của ông. Yếu tố phê phán vốn là đặc điểm chủ yếu của tư duy nghệ thuật của L.Tônxtôi, trong tác phẩm này mặc dù cũng tạo nên một tuyến thế sự nhưng không có địa vị nổi bật hàng đầu.

   2.  Sự nghiệp nhà Actamonov của Gorki

Quá trình nảy sinh, phát triển và thể hiện ý đồ thường bộc lộ rõ cách lý giải và hình thức khái quát nghệ thuật của tác giả. Chẳng hạn, quá trình sáng tạo tác phẩm Sự nghiệp dòng họ áctamônốp của M. Goócki. Theo V. A. Mácximôva, trên cơ sở các tư liệu khách quan cho biết, ý đồ tiểu thuyết bộc lộ đầu tiên vào năm 1904 trong một cuộc trò chuyện với L. Tônxtôi : Goócki muốn viết tiểu thuyết về lịch sử ba thế hệ, về quy luật thoái hoá của các  nhân cách cá nhân tư sản, dựa trên cơ sở quen biết và tìm hiểu một gia đình tư sản gồm ba thế hệ có thật. Tônxtôi đã nhiệt tình khuyến khích. Tới năm 1907, trong một bức thư Goócki bày tỏ muốn thể hiện “cái chết của thế giới cũ và sự ra đời của thế giới mới”. Đó là một bước tiến mới trong ý đồ. Thời này, ông viết thiên tiểu luận Sự sụp đổ của cá nhân (1908), và xác định rõ chủ đề “ba thế hệ của gia đình tư sản”. Trong một lần gặp Lênin ở đảo Capri, Goócki lại nói với Lênin ý đồ mơ ước của mình. Lênin tán thưởng, khuyến khích, nhưng lo ngại không biết sẽ kết thúc tiểu thuyết như thế nào, bởi vì hiện thực chưa cung cấp được cái kết cho nó. Bản thân Lênin cũng chưa thấy nó. Lênin khuyên tiểu thuyết đó chỉ nên viết sau khi cách mạng thành công, còn lúc bấy giờ chỉ nên viết cái gì tựa như Người mẹ. Theo tài liệu năm 1914, nhà văn bắt đầu khởi thảo và dự báo sẽ in tiểu thuyết áctamônốp vào các số đầu của Tạp chí Biên niên năm 1917, nhưng cũng không thành. Quyển sách của Lênin xuất bản năm 1917, Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn mới nhất của chủ nghĩa tư bản (về sau gọi là Giai đoạn tột cùng), đã ảnh hưởng quan trọng tới ý đồ của tác giả, đưa vấn đề lịch sử thế hệ vào vấn đề lịch sử giai cấp và kết hợp tư tưởng đấu tranh giai cấp vào tư tưởng thế hệ, trong đó sự tiếp nối của các thế hệ trong gia đình người thợ dệt Marôdốp là trung tâm kết cấu của tác phẩm. Mỗi thế hệ tượng trưng cho một giai đoạn phát triển về ý thức chính trị của giai cấp vô sản Nga. Người ông Bôrít thán phục và vâng phục chủ. Người con đã bất mãn, nhưng kìm nén. Người cháu Dakha thì căm thù, muốn đổi thay địa vị xã hội. Tiểu thuyết viết trong một năm, từ mùa xuân năm 1924 đến mùa xuân năm sau và tháng 10 – 1925 thì sửa chữa xong tại Xorento (Italia). Toàn bộ quá trình sáng tác thể hiện sự hình thành tư tưởng về lịch sử giai cấp và đối sánh giai cấp. Gia đình tư sản bình yên, ngọt ngào, thịnh vượng, xí nghiệp mở rộng, làm ăn phát tài, nhưng cuộc sống bóc lột làm họ giảm sút dần năng lực sáng tạo, năng lực lao động và mơ ước tương lai, trước sự khoẻ khoắn của những người công nhân họ dự cảm thấy mối nguy hiểm. Nhà văn thay đổi tình tiết và bỏ bớt dần các tuyến phụ để làm nổi bật tư tưởng đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản. Trong dị bản đầu, người đại diện cách mạng là anh thợ lò Vaxili. Trong bản cuối cùng, người đó là Dakha, cháu nội của Bôrít Marôdốp, làm cho tư tưởng tiến hoá giai cấp nổi bật hơn. Trong dị bản đầu khi Pie hỏi ai là chủ, Tikhôn trả lời là Dakha, nhưng trong bản cuối cùng, câu trả lời là giai cấp công nhân. ở đây quan niệm điển hình giai cấp được thể hiện trong dạng thuần tuý và sáng rõ một cách cổ điển.

    3. Sông Đông êm đềm của Solokhov

      Nghiên cứu sự hình thành tác phẩm, nhất là tác phẩm lớn, cần phải nêu bật vai trò bản lĩnh của tác giả. Quan niệm duy vật tầm thường lập luận rằng tác phẩm được tạo ra không phải do một mình tác giả mà còn do cuộc sống, do thời đại, từ đó cho rằng cái quan trọng không phải là tác giả nhằm vào đâu mà là xem anh ta rơi vào đâu, ngả về phía nào. Nghĩa là tác phẩm không do con người sáng tạo, mà là do thời đại sáng tạo, ít nhất là về phương diện tư tưởng, khuynh hướng. Thực ra đó chỉ là quan niệm xem nhẹ yếu tố con người, bản lĩnh con người. Lịch sử sáng tạo Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp có thể nói là lịch sử của một bản lĩnh lớn. Theo L. Iakimencô, chuyên gia về Sôlôkhốp cho biết thì tiểu thuyết được bắt đầu sáng tác từ năm 1925, khi Goócki vừa kết thúc tiểu thuyết Sự nghiệp dòng họ áctamônốp và bắt đầu sáng tác sử thi Cuộc đời Klim Xamghin. Văn học Xô viết những năm hai mươi của thế kỷ XX cũng vừa hình thành những phong khí của nó. Mọi vấn đề – Tổ quốc và cách mạng, con người và lịch sử, tự do và tất yếu, nhân đạo và nghĩa vụ, giai cấp và nhân loại,… đều mang nội dung lịch sử cụ thể và mất đi tính chất vĩnh hằng, đều đề cập đến các vấn đề chính trị có tính chất bùng nổ. Các nhà văn tập trung ngợi ca cách mạng, ngợi ca nhân dân cách mạng, (tự phát hoặc tự giác) ; ngợi ca nhân vật quần chúng, rồi những anh hùng nổi lên từ quần chúng theo một phong cách lãng mạn, ước lệ. Tiếp tục chủ đề “nhân dân và cách mạng” đương thời, nhưng Sôlôkhốp không chỉ ca ngợi mà muốn phát hiện các quy luật của cách mạng, trình bày ảnh hưởng của cách mạng tới số phận mọi mặt của đời sống nhân dân. Nhưng ý đồ đó không hình thành tức khắc và được khẳng định một cách dễ dàng. Thoạt đầu ông định viết một tiểu thuyết miêu tả việc dân Côdắc tham gia cuộc phiến loạn phản cách mạng của tướng Cornilốp, về sau tạo thành quân đoàn kỵ binh số 3, lấy tên là Dân sông Đông, trong đó các đảng viên Đảng Cộng sản tuyên truyền ngoài mặt trận, có sĩ quan vô chính phủ, có cảnh chiến đấu như phần đông tiểu thuyết đương thời. Nhưng ông mới viết được chừng 3 – 4 tờ in (khoảng 50 – 60 trang) thì bỏ dở vì nhận thấy người ta sẽ không hiểu vì sao phần lớn dân Côdắc lại tham gia đấu tranh chống lại cách mạng. Tác giả phải trở về với cội nguồn lịch sử của nó, với thời kỳ trước chiến tranh và tìm được Grigôri cùng gia đình Mêlêkhốp. Tiểu thuyết được dự định thành sử thi bốn tập về Cách mạng tháng Mười, về nội chiến và về số phận lịch sử của người Côdắc sông Đông và lấy tên là Sông Đông êm đềm. Tập II in vào cuối năm 1928 đã gây chấn động lớn vì sự miêu tả sự kiện lịch sử đã kết hợp thoải mái với việc miêu tả cuộc sống riêng tư và sinh hoạt hằng ngày của nhân vật.  Nhất là nó kết thúc với việc những người lãnh đạo uỷ ban Xô viết, những người dân sông Đông bị hãm hại. Grigôri đi theo quân Bạch vệ. Chỉ nhờ sự can thiệp của Xêraphimôvích mà nó mới được in. Từ năm 1929 đến đầu những năm ba mươi, tác giả phải chịu đựng sự tấn công, phê bình từ nhiều phía. Các nhà phê bình thuộc Hiệp hội những nhà văn vô sản Nga (RAPP) chỉ trích tác giả đã rời xa xã hội Xô viết, bảo vệ bọn culắc. Có người lên án “hệ tư tưởng culắc” của nhà văn, phê bình việc lấy một trung nông làm nhân vật trung tâm, gọi nhà văn chỉ là “bạn đường”, quy ông vào tầng lớp giàu có của dân Côdắc, không công nhận tác phẩm là văn học vô sản. Ngay cả Phađêép bên cạnh những đánh giá đúng đắn vẫn chê tác phẩm “mang tính chất địa phương”, sa vào “mô tả sinh hoạt hằng ngày”. Các cơ quan Đảng và báo Sự thật nhiều lần phát biểu ý kiến bảo vệ tác giả, nhưng điều đó không hoàn toàn làm cho việc sáng tác được dễ dàng. Cuối năm 1929, người ta đưa tin Sôlôkhốp đang hoàn thành tập III Sông Đông êm đềm. Việc in cuốn này gặp khó khăn lớn, là vì phần sáu kể về cuộc khởi nghĩa của dân vùng Thượng sông Đông năm 1919. Đó là cuộc khởi nghĩa có tới ba vạn rưỡi người tham gia với hai mươi lăm đại bác và hơn một trăm súng máy.

Các nhà lịch sử chưa nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của sự kiện đó. Tác giả nhận định nguyên nhân của nó là chính sách đối với trung nông quá nghiệt nhã và do bọn phản động Đênikin lợi dụng. Trong giới phê bình có ý định phủ nhận là có sai lầm đó. Nhà văn Phađêép đề nghị sửa chữa nhiều, cắt bỏ tới 3/4 cuốn sách, Sôlôkhốp không chấp nhận. Thêm vào đó có dư luận cho rằng Sông Đông êm đềm là tác phẩm ăn cắp. Quả là có một người tên là X. Gôlôsép viết tác phẩm ký sự lấy tên là Sông Đông êm đềm kể về sinh hoạt vùng sông Đông, có nhắc tên Cornilốp, Kalêđin vì vậy mà có tin đồn kia. Nhà văn rất đau khổ. Nếu không in được tập III, người ta càng có cớ cho là ông ăn cắp tác phẩm người khác, nay hết vốn, không viết tiếp được. Ông phải viết thư nhờ Goócki can thiệp mới in được (1933). Nhưng cái chính là tác giả không thay đổi khuynh hướng tái hiện sự thật lịch sử, kiên trì một phong cách nghiêm ngặt chống lại cách hiểu thô thiển về khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của tác phẩm. Chẳng hạn có đoạn Sôlôkhốp miêu tả các kỵ sĩ Hồng quân ngồi ngất ngưởng dị dạng trên những chiếc yên của đội kỵ binh đã bị giới phê bình dung tục bắt bẻ : “Ai ? Hồng quân mà ngồi dị dạng à ? Sao lại có thể miêu tả Hồng quân như thế được!”. Tác giả im lặng trước các chỉ trích kiểu đó. Báo Tin tức tháng 3 – 1935 đưa tin tập IV đã hoàn thành, nhưng tác giả sửa chữa mãi, cái chính là nội dung đề cương về sự phát triển của số phận các nhân vật. Dư luận phê bình từ cuối những năm hai mươi đã khá nhất trí về cái kết tương lai của tiểu thuyết là Grigôri cần phải chạy theo Hồng quân. Năm 1935, tác giả khẳng định : “Số phận Mêlêkhốp rất cá biệt, tôi không hề xem anh ta là hiện thân cho tầng lớp Côdắc bậc trung. Tôi phân biệt anh ta với bọn Bạch vệ, nhưng cũng không biến anh ta thành Bônsêvích”. Thậm chí có bài báo nhân danh độc giả viết : “Người đọc không muốn tin Mêlêkhốp là hư cấu. Họ tin anh ta sống thực sự, làm việc ở nông trại, anh ta vào Hồng quân, tham gia tập thể hoá nông nghiệp ở Thượng sông Đông”. Lập trường của nhà văn trái lại : “Tôi muốn có một cái kết chân thực” (1935). Cho đến 1 – 1939 thì bản thảo tập IV được sửa chữa xong, đầu năm 1940 được công bố trên tạp chí Thế giới mới. Trong khoảng năm 1940 – 1941 giới phê bình vẫn có ý kiến đánh giá nhận xét Mêlêkhốp qua ba giai đoạn : ban đầu là điển hình, khoảng giữa là cá biệt, và cuối cùng là không còn điển hình nữa ! Theo họ, muốn cho điển hình, thì Mêlêkhốp phải hoặc là trở thành Bônsêvích, hoặc là trở thành sĩ quan Bạch vệ, tức là thể hiện tư tương giai cấp luận, hoặc là ở phía này, hoặc ở phía kia, hoặc là ta, hoặc là địch, không có vị trí ở giữa. Rõ ràng là tác giả phải tự đấu tranh rất nhiều để kiên trì cái kết của ông, quan niệm của ông. Khi Mêlêkhôp trở về, quẳng khẩu súng xuống sông, thất thểu về nhà, bắt gặp đứa con trai, tựa vào vai nó bước đi, nhà văn muốn một cuộc sống hòa bình, chấm dứt bạo lực. Tại sao lại đặt nhan đề là sông đông êm đềm, mà không đặt thành Sông Đông dậy sóng như các tác phẩm tuyên truyền chiến tranh? Thiết nghĩ đó là cái nhan đề phê phán,Cuộc nội chiến đã phá hủy suộc sống êm đềm vùng sông Đông. Ông đã miêu tả tất cả sự khốc liệt, tàn ác, ghe rợn của cuộc nội chiến. Tính tàn khốc, vô nhân đạo của chiến tranh phải là chủ đề cơ bản của tiểu thuyết.

Lịch sử sáng tạo Sông Đông êm đềm không chỉ là lịch sử sáng tạo một thế giới nghệ thuật mới, phong cách mới, mà còn là lịch sử khắc phục những sự trì trệ t[6]rong cảm thụ nghệ thuật, khắc phục những quan niệm giáo điều, giản đơn về quá trình lịch sử, những công thức cứng nhắc, là quá trình khẳng định tư tưởng viết sự thật trong văn học. Lịch sử sáng tạo tác phẩm như vậy trước hết không phải giản đơn chỉ là vấn đề “lao động”, “trau dồi”, không chỉ là công việc “bếp núc”, mà còn là sự đấu tranh, va chạm của các quan niệm sáng tác và quan điểm thẩm mỹ. Nó phải tính đến mọi tác động của đời sống tư tưởng xã hội, nhất là của môi trường văn học đương thời.  (Còn nữa)

 

(Viết năm 1987)

 

 

 


([1]) Xem : B. Mâylắc, Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật, Tạp chí Những vấn đề văn học (tiếng Nga),  1960, M. Arnauđốp, Tâm lý học sáng tạo văn học (tiếng Việt), Sđd.

([2]) P. Jakobson, Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật, Mátxcơva, “Tri thức”, 1971 (tiếng Nga).

([3]) NXB Văn học, H., 1967.

([4]) NXB Văn nghệ, H., 1956.

([5]) NXB Văn học, H., 1984, in lần thứ hai.

(1) Lịch sử sáng tạo các tác phẩm văn học Nga và Xô Viết, chỉ dẫn thư mục M. NXB “Sách”, 1968 (tiếng Nga).

 

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Lịch sử sáng tạo tác phẩm như một vấn đề nghiên cưu

  1. Pingback: Tin thứ Hai, 30-12-2013 | Dahanhkhach's Blog

  2. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ HAI 30-12-2013 | Ngoclinhvugia's Blog

  3. montaukmosquito nói:

    “Lịch sử sáng tạo Sông Đông êm đềm không chỉ là lịch sử sáng tạo một thế giới nghệ thuật mới, phong cách mới, mà còn là lịch sử khắc phục những sự trì trệ t[6]rong cảm thụ nghệ thuật, khắc phục những quan niệm giáo điều, giản đơn về quá trình lịch sử, những công thức cứng nhắc, là quá trình khẳng định tư tưởng viết sự thật trong văn học”

    Tôi thêm, … để tạo ra một thế giới nghệ thuật mới, phong cách mới, tạo ra những sự trì trệ mới trong cảm thụ nghệ thuật, tạo ra những quan niệm giáo điều mới, giản đơn hơn về quá trình lịch sử, những công thức cứng nhắc mới . Là quá trình khẳng định tư tưởng viết sự thật mới trong văn học .

    Bác vừa chứng minh cách mạng xã hội chủ nghĩa là để đánh đổ những giá trị của thế giới cũ bằng bạo lực -trong trường hợp này, của ngòi bút-, và trên nền đổ nát của sự tận diệt, những giá trị mới xã hội chủ nghĩa được xây dựng một cách hoành tráng .

    Sự hoành tráng đó cần những người thổi ống đu đủ mẫn cán .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s