PHẢN ÁNH TỨC LÀ KIẾN TẠO – Kiêm bàn phản ánh luận trong tầm nhìn hiện đại

          PHẢN ÁNH TỨC LÀ KIỄN TẠO

(Kiêm bàn phản ánh luận trong tầm nhìn hiện đại)

 

                                                                                    Trần Đình Sử

 

     Lí luận phản ánh macxít do Lenin xây dựng phát biểu tập trung trong sách Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, được coi là nền tảng duy vật để giải quyết lí luận nhận thức và lí luận nghệ thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng do sơ lược, lí luận này liên tục gây tranh cãi từ khi nó ra đời, từng dẫn đến vận dụng giản đơn, dung tục, không phù hợp với thực tiễn nhận thức và sáng tạo nghệ thuật. Cho đến nay không ít người vẫn hoài nghi giá trị khoa học của nó, không muốn nhắc đến nó. Song mặt khác trong đời sống hai chữ “phản ánh” vẫn luôn được nói đến khi nói về quan hệ văn học và hiện thực. Vậy phản ánh luận có chỗ mạnh nào và chỗ yếu nào?

   Cội nguồn của phản ánh luận có từ thời cổ đại. Từ thuyết hình ảnh của Democrit đến thuyết “bắt chước” của Aristote đều dựa vào sự tương đồng giữa tri thức, hình ảnh với đối tượng phản ánh mà xây dựng lí thuyết về  mối quan hệ văn nghệ với hiện thực. Sự tương đồng này nằm ở bề sâu, không phải bề mặt như người ta tưởng. Khái niệm “bắt chước” [1]của Aristote, theo giải thích của nhà triết học Nga A. F. Losev có tới 9 nghĩa, trong đó có nói bắt chước cái khả nhiên, do đó mà sự bắt chước trong nghệ thuật có ý nghĩa triết học. Theo các nhà vật lí, “Aristote đã hình dung vật chất sờ mó được như là sự áp đặt của hình thái lên cái tiềm tàng, như một loại bản chất bao gồm khả năng chứ không phải là thực tại.”[2] Karl Marx cũng đã nói về quan hệ giữa tồn tại và ý thức theo quan hệ nhân quả, trong đó tồn tại có trước, ý thức có sau, tồn tại quyết định ý thức, từ đó người ta phải giải thích ý thức bằng tồn tại, tức là bằng nguyên nhân của nó, chứ không phải làm ngược lại, tức là lấy kết quả giải thích kết quả. Từ đó người ta xem hiện thực, cuộc sống xã hội là cội nguồn của văn học, cuộc sống có trước, văn học có sau. Các nguyên lí ấy vẫn có tính chân lí mà không ai phủ nhận được. Giá trị của thuyết phản ánh là khẳng định hiện thực cuộc sống là cội nguồn của ý thức và văn học nghệ thuật. Nhưng từ cội nguồn đến ý thức là một quảng đường hết sức phức tạp, bí ẩn mai chỉ hai chữ phản ánh không thể nói lên được. Lê nin cũng nói đến phản ánh năng động, có lựa chọn, khái quát, vượt lên cảm tính, bao hàm cả sự tưởng tượng, sự huyễn tưởng[3]tuỳ theo thế giới quan giai cấp. Tuy nhiên coi phản ánh luận là nền tảng duy nhất của sáng tạo văn nghệ thì không đúng. Đầu tiên ta cần xác lập vị trí của phản anh trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật, bởi sáng tạo nghệ thuật có nhiều bình diện.

    Theo nhà lí uận văn học Mĩ M. H. Abrams trong sách Gương và đèn – lí luận chủ nghĩa lãng mạn và sự phê bình truyền thống (xuất bản 1953) đã nhắc đến mô hình quan hệ văn học với thế giới (hiện thực), tác giả, người đọc, từ các quan hệ đó có thể phân chia ra bốn khuynh hướng lí luận chung. Tác phẩm với thế giới: thuyết bắt chước, sau này là phản ánh; tác phẩm với người đọc: thuyết giáo huấn, sau này là tiếp nhận; tác phẩm với tác giả: thuyết biểu hiện; tác phẩm với chính nó: thuyết khách quan, sau này là cấu trúc, kí hiệu, ngôn ngữ. Trong số bốn bình diện đó   phản ánh chỉ lí giải văn nghệ từ một bình diện nhận thức, chứ không phải toàn bộ hoạt động văn nghệ như trước đây lầm tưởng.[4] Cond ba bình diện nữa không thể giải thích bằng phản ánh.

    Trong bối cảnh hiện nay có nhiều lí thuyết nhận thức khác nhau ta chỉ nên xem phản ánh luận là một trong các lí thuyết có khả năng giải thích về nghệ thuật, không phải duy nhất. Như thế không nên lấy thuyết phản ánh mà bác bỏ các lí thuyết khác không đề cập đến nó như trước đây đã làm và ngược lại cũng vậy. Vấn đề thứ hai là bản thân lí thuyết phản ánh, không phải chỉ là quan hệ nhân quả giữa tồn tại và ý thức, mà là vấn đề chức năng sống của sinh vật. Muốn tồn tại cái cây phải biết hướng tới phía mặt trời, con vật phải biết nhận ra, định vị con mồi và con người phải biết săn bắt, canh tác để duy trì sự sống. Mọi sinh vật đều cần có năng lực phản ánh để tồn tại. Từ nhu cầu đó mà phát triển các giác quan và ý thức như là sản phẩm cao nhất của vật chất. Từ ý thức mà phát triển các hình thái ý thức xã hội cũng là điều hợp quy luật.  Từ chức năng sống này ta nên hiểu phản ánh luận là nền tảng của lí luận về ý thức, chứ không chỉ là nhận thức luận. Ý thức rộng hơn nhận thức.

     Những đổi thay trong lí luận nhận thức thế kỉ XX đã cung cấp cứ liệu để ta xem lại lí thuyết phản ánh. Có bốn lí thuyết quan trọng về nhận thức luận.

    Một là cơ học lượng tử có “nguyên lí bất định”, theo đó tri thức thu nhận được phụ thuộc vào phép đo, cũng tức là phụ thuộc vào ngôn ngữ vật lí. Có người từ đó rút ra kết luận rằng tri thức của chúng ta không còn là sự phản ánh khách thể nữa, nhưng suy luận đó không đúng, bởi vì sự phản ánh theo từng phép đo dều cho ta tri thức đúng, có điều đó không phải là tri thức duy nhất như trong vật lí cổ điển, và nó cho thấy sự phản ánh phụ thuộc cả vào chủ quan và khách quan, điều mà vật lí cổ điển chưa thấy.

    Hai là lí thuyết khoa học thần kinh tri nhận, theo đó, não người là sản phẩm lựa chọn của tự nhiên, nhằm xử lí các mối quan hệ qua lại giữa cơ thể và thế giới xung quanh. Franc Crick, người phát minh ra DNA cho rằng hoạt động tinh thần của con người hoàn toàn do hành vi của tế bào thần kinh và tế bào giao cảm cùng các nguyên tử và các hạt tác động lên chúng tạo nên. Lấy thị giác là điểm xuất phát để nghiên cứu, ông cho rằng ý thức bắt nguồn từ quá trình kết hợp giữa chú ý và kí ức ngắn. Cái mà ta ý thức được chỉ là kết quả của sự vận hành của đại não. Theo ông, nhìn là một quá trình kiến tạo, đại não không sao chép thông tin thị giác mà là mã hoá và giải mã cái thế giới nhìn thấy được. Như thế, đại não không có sự phản ánh theo lối sao chép nào mà là kiến tạo, mã hoá và giải mã, vật chất và ý thức tìm thấy sự thống nhất trong hoạt động của tế bào.

    Thứ ba là lí thuyết kiến tạo. Quan niệm phản ánh có một quá trình phát triển lâu dài. Sau quan niệm cổ đại, Francis Bacon là người có cống hiến to lớn, ông đem thực nghiệm khoa học và phép quy nạp đưa vào phản ánh luận và phơi bày vai trò của cấu trúc tư duy của chủ thể trong quá trình phản ánh. Theodor Hobbes hệ thống hoá học thuyết của Bacon, John Locke tổng kết chủ nghĩa kinh nghiệm Anh, còn Marx đưa thực tiễn vào nhận thức luận. Locke khẳng định nhận thức bắt nguồn từ kinh nghiệm, quan niệm phản ánh thực tại. David Hum chỉ phản bác một điểm: Mọi kết luận có được đều nhờ kinh nghiệm thì dựa trên cơ sở nào ? Tự nhiên ngăn cách chúng ta với những bí mật của nó, nó chỉ cho ta biết ít nhiều tính chất bề ngoài, do đó phản ánh luận của Locke đã bao hàm tư tưởng kiến tạo. Phải đến Kant thế kỉ XVIII và Piajet thế kỉ XX thì lí thuyết kiến tạo mới được xác lập. Theo Kant, nhận thức là quá trình kiến tạo một chiều, muốn thấy bản chất sự vật, chủ thể phải có những phạm trù tiên nghiệm, tách rời với vật tự nó, còn thế giới khách quan chẳng góp phần kiến tạo chủ thể. Đến Piajet thì kiến tạo đã là quá trình kiến tạo hai chiều, tương hỗ, vừa có chủ thể vừa có khách thể. Cấu trúc nhận thức của chủ thể, trong quá trình không ngừng giải quyết các mâu thuẫn giữa đồng hoá và thuận ứng với khách thể ngày càng phong phú và phức tạp lên. Như thế lí thuyết kiến tạo không thể tách rời với thực tiễn của cá nhân và xã hội. Lí thuyết kiến tạo ngày nay góp phần làm cho lí thuyết phản ánh sâu sắc hơn và khắc phục những hạn chế sơ lược của nó.

   Hàng loạt khái niệm mới như sơ cấu (scheme), hoàn hình (gestalt ), phạm lệ, cấu trúc khái niệm…tràn vào lĩnh vực nhận thức cơ hồ đã đánh một đòn chí mạng vào lí thuyết phản ánh trực quan. Tuy vậy nếu nói như thế là thủ tiêu xong thuyết phản ánh thì lại là nhầm to, bởi lí thuyết kiến tạo của tư duy chỉ cho thấy sự thống nhất của phản ánh, phản tư và kiến tạo, làm đổi thay thuyết phản ánh giản đơn, nhưng không phủ định bản thân sự phản ánh.

     Thứ tư là lí thuyết ngôn ngữ – kí hiệu, chúng tôi sẽ trình bày ở dưới.

     Thật vậy. Phản ánh luận mác xít là lí thuyết về quan hệ giữa ý thức và tồn tại, tư tưởng và hiện thực. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Marx và Engels đã xác định rất rõ mối quan hệ đó: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là Tồn tại được ý thức và Tồn tại của con người là quá trình sinh hoạt hiện thực của họ.” Vấn đề mà chúng tôi muốn lưu ý ở đây là “tồn tại được ý thức” không phải là phản ánh trực quan, không đơn giản chỉ là có lựa chọn, khái quát, mà còn bao hàm kiến tạo. [5]Trong Tư bản luận Marx cũng nói “cái tinh thần (tức là ý thức ) chẳng phải cái gì khác, mà là cái tự nhiên được chuyển vào đầu óc con người và được cải biến lại ở trong đó.”[6]  Sự cải biến mà Marx nói đây theo chúng tôi nghĩ, chính là kiến tạo. Trong khi nói những điều này tôi nghĩ rằng Marx muốn nói tới sự phê phán của Feuerbach đối với đạo Cơ đốc. Thiên đường ở thế giới bên kia chẳng phải cái gì khác mà chính là những điều tốt đẹp của trần thế được biến đổi đi mà kiến tạo thành; là sự phản ánh lộn ngược của thực tại; là hình thái ý thức mà Marx luôn cho là có tính hư ngụy. Như vậy để giải thích cội nguồn của ý thức Marx và Engels đề cập tới bốn nhân tố: 1)Tồn tại (Tự nhiên, quá trình sinh hoạt hiện thực của con người); 2) Ý thức, tinh thần như là sản phẩm xã hội, có cội nguồn từ hiện thực đời sống;  3) Đầu óc chủ thể và tính năng động biến cải của nó đối với thông tin nhận từ bên ngoài; 4) Ngôn ngữ như là phương tiện để biểu đạt, khái quát, tư duy và giao tiếp của con người với con người. Không có ngôn ngữ thì không có ý thức. Lí luận ý thức và tồn tại của Mác và Engels ở đây tuy được hai ông trực tiếp dùng làm cơ sở cho lí thuyết về cấu trúc xã hội: hạ tầng cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc cùng với các hình thái ý thức xã hội ở thượng tầng, nhưng cũng gián tiếp làm cơ sở cho lí luận về ý thức.

      Phản ánh luận của Lênin chỉ nhằm tới giải quyết một vấn đề riêng, một phạm vi hẹp, là khẳng định cơ sở duy vật của lí luận nhận thức, chống lại các lí thuyết duy tâm chủ quan, bất khả tri, chứ chưa phải giải quyết toàn bộ lí thuyết nhận thức.. Rất tiếc là Lênin không có dịp được đọc tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của Marx và Engels vì tác phẩm này mãi đến năm 1932, sau khi ông qua đời 9 năm mới được xuất bản lần đầu tiên, vì thế ông không biết quan điểm ngôn ngữ của hai nhà kinh điển. Vào thời kì trước 1909, là năm cuốn sách Chủ nghia duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của Lê nin, một cuốn sách được viết ra tại nơi đi đày ở Sibêri, thiếu thốn đủ mọi thứ, nhất là tài liệu, ông chỉ có thể dựa vào nguyên lí của Engels trong cuốn sách Chống Đuy Rinh, dựa vào triết học và tâm lí học cổ điển  để xây dựng lí thuyết của mình, cho rằng lí luận phản ánh tâm lí học (không tính dến kí hiệu) là nền tảng cho mọi lí luận về nhận thức. “Lí luận về nhận thức đặt một cách nghiêm túc và kiên quyết. tất cả những suy luận của nó trên cơ sở thừa nhận thế giới bên ngoài và sự phản ánh của thế giới ấy trong ý thức con người”[7]. Lên nin dựa vào mệnh đề của Engels về “vật và những hình ảnh hoặc phản ánh của vật trong đầu óc (Gendnken-Abbilder), vì những hình ảnh trong đầu óc đó, dĩ nhiên chỉ có thể bắt nguồn từ cảm giác thôi.”[8] Trích dẫn này được ông lấy từ sách Chông Đuy Rinh xuất bản bằng tiếng Đức, năm 1904. “Cảm giác cung cấp cho ta một hình ảnh đúng đắn về các vật, rằng chúng ta biết được bản thân các vật đó, rằng thế giới tác động đến các giác quan của ta.”[9] “Cảm giác là một hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” (tr. 151) Sở dĩ cảm giác cung cấp hình ảnh đúng đắn là vì: “cảm giác chép lại, chụp ảnh lại, phản ánh lại thực tại đó, nhưng sự tồn tại của thực tại đó không lệ thuộc vào cảm giác” (tr. 167). Lênin khẳng định tính thứ nhất của tồn tại là đúng đắn, song ông có phần chưa thấy hết đặc điểm và vai trò của chủ thể cảm giác, vai trò kiến tạo của đại não đối với cảm giác. Thực tế khi ta cảm giác được sự vật tức là ta giải mã thông tin do cảm gíac đưa lại, chứ bản thân cảm giác không phản ánh sự vật.

     Lênnin coi phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất, “giả định rằng hết thảy mọi vất chất đều có đặc tính phản ánh mọi vật bên ngoài, một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác.” (tr. 113). Lênin cũng nói đến “sự chuyển hoá của năng lượng kích thích bên ngoài thành một hiện tượng ý thức”(tr. 50), nhưng chuyển hoá như thế nào, theo cơ chế nào thì ông chưa nêu ra. Trong các đoạn trích này ta thấy cảm giác = hình ảnh = hình tượng = phản ánh = giống như thật = phản ánh chân lí. Xem cảm giác là hình ảnh (образ, image) sao chép của sự vật khách quan là một quan niệm không chính xác. Nhà tâm lí học xô viết S. L. Rubinstein sau này khẳng định: “Không nên đem phản ánh giải thích thành mô phỏng hay phục chế, mà nên giải thích thành sự phản xạ đối với sự vật khác, tức là sự phản xạ của một hiện tượng này đối với một hiện tượng khác. Thế nghĩa là bản thân phản ánh biểu hiện thành một phạm trù bản thể luận khi một hiện tượng tồn tại này phản xạ đối với một hiện tượng tồn tại khác.”[10] Từ hình ảnh đã có hơn 2500 năm nay, tính từ Democrit, song xem cảm giác là hình ảnh của thế giới khách quan cho đến nay vẫn chỉ là giả thuyết, chưa có một lí thuyết hoàn thiện về nó. Nhà tâm lí học Liên Xô A. N. Leonchiev cho rằng “cho đến nay chưa có một lí thuyết chung về tri giác có sức thuyết phục, chưa có một hệ thống khái niệm phù hợp với phép biện chứng duy vật mà bao quát được các tài liệu tâm lí học đã tích luỹ”[11]. Điều đó có nghĩa là lí thuyết duy vật về phản ánh chưa có cơ sở trong tâm lí học. Mở rộng ra, có thể nói lí thuyết cảm giác – hình tượng chưa có cơ sở đầy đủ trong lí thuyết tâm lí học. Trong triết học của mình G. V. Plekhanov khẳng định, cảm giác và biểu tượng của chúng ta, hoàn toàn không phải là sự phản ánh của thế giới khách quan, mà chỉ là những biểu tượng chủ quan (kí hiệu), không cung cấp một quan niệm chính xác nào về thế giới vật chất. Đó là lí thuyết đúng phù hợp với cơ sở kí hiệu học ngày nay. Nhưng Lenin đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm của Plekhanov một cách vũ đoán. Trong toàn bộ cuốn sách Chủ nghĩa duy vật và chủ nghia kinh nghiệm phê phán, Lê nin tập trung vận dụng tư tưởng của Engels để bảo vệ quan điểm duy vật hiện đại và phê phán các học thuyết mà ông xem là duy tâm đương thời, ông chưa kịp xây dựng lí thuyết phản ánh một cách khoa học. Lí thuyết phản ánh của Lênin còn được đề cập tới trong Bút kí triết học và một số bài phê bình văn học khác. Trong các bài báo về Tolstoi Lenin đã nhìn sáng tác của nhà văn Nga vĩ đại từ phía chính trị, theo quan điểm chính trị, phát hiện một số nội dung tương đương xã hội học trong tác phẩm của nhà văn. Có thể nhận định rằng ở đây lí thuyết phản ánh của Lênin chỉ mới là cơ sở, tiền đề  duy vật ban đầu của lí luận nhận thức chứ bản thân chưa phải đã là sự giải quyết khoa học, triệt để về lí luận về nhận thức, bởi vì Lênin chỉ tập trung nhấn mạnh hai nhân tố của tư duy là tồn tại khách quan và ý thức, tức là quan niệm về tính tích cực của khách thể, mà chưa nói tới yếu tố chủ thể và cơ chế phản ánh của chủ thể là yếu tố cơ bản của quá trình nhận thức. Là lí luận nhận thức chân lí, mà chân lí theo một quan niệm thịnh hành, là sự nhận thức phù hợp (nhất trí) với thực tế khách quan, tất nhiên Lê nin phải lấy hình ảnh coppy, sao chép thực tại làm cơ sở, vì nó phù hợp nhất với nguyên mẫu thực tế, điều đó có phần hợp lí, song sử dụng mấy từ “hình ảnh”, “coppy”, “sao chép” cũng để lại dấu ấn của sự thiếu chặt chẻ, không thể hiện được tính phức tạp và tính năng động, sáng tạo trong cơ chế và quá trình phản ánh của ý thức con người và hơn nữa, thể hiện cái ảo tưởng rằng con người có thể nắm bắt hoàn toàn chân lí khách quan của hiện thực và lịch sử.

       Ngày nay nhìn lại ta thấy lập luận của Lê nin về thuyết phản ánh ngoài mấy điều hợp lí nêu trên, do hạn chế lịch sử khó tránh những điều giản đơn, sơ lược, thậm chí là ấu trĩ như sau. Một là luận điểm xem phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất,  “thuộc tính phản ánh giống như cảm giác” là không có cơ sở, bởi vì cảm giác chỉ có thể có được trong thế giới hữu sinh, không thể có trong thế giới vô sinh. Sau này người ta đã giải thích khác đi cho được chặt chẻ hơn, cho rằng thuộc tính phổ biến ấy là phản ánh “dấu vết” của tác động qua lại là thuộc tính cơ học phổ biến của vật chất, bởi tác động qua lại của mọi vật thể, dù hữu sinh hay vô sinh cũng để lại dấu vết[12]. Nhưng đáng tiếc là dấu vết và cảm giác là hai chuyện khác nhau hoàn toàn. Tác động qua lại vẫn không đồng nhất với phản ánh. Hai là xem cảm giác là sự phản ánh đúng đắn hình ảnh của vật cũng không hoàn toàn đúng. Cảm giác vẫn thường đánh lừa người. Cảm giác có khi vừa thế này vừa thế kia. Có người đã cho thấy rằng, chủ nghĩa duy vật không hề cho rằng cảm giác là hình tượng hay là sự coppy của sự vật, bởi vì chúng không giống với các quá trình khách quan đã sinh ra chúng. Phải đến tri giác, biểu tượng mới xuất hiện hình ảnh về thế giới, và tri giác, biểu tượng làm cho cảm giác rõ ràng. Và hình ảnh ấy cũng không phải giản đơn là hình ảnh khách quan, nó do khái niệm và biểu tượng có sẵn trong kí ức chủ quan “nhận ra” và tạo nên hình ảnh. Nói cách khác, cảm giác không phải là tấm gương để phản chiếu sự vật. Tâm lí học hiện đại giải thích rằng, kích thích của ngoại giới tác động đến giác quan, một mặt được chuyển lên vỏ não, tổng hợp thành tri giác, biểu tượng, tri thức. Mặt khác được chuyển theo đường thần kinh thực vật gây nên cảm xúc, tình cảm, thái độ ứng xử. Như thế bản thân cảm giác chưa phải là hình ảnh của thế giới khách quan. Ba là khi cho rằng sự phản ánh chỉ phụ thuộc vào một mình cái được phản ánh, tức là cái tác động, không có vai trò của chủ quan cũng không đúng. Chẳng hạn, sự lên xuống của cột thuỷ ngân trong nhiệt kế phản ánh nhiệt độ của môi trường xung quanh lên hay xuống, nhưng sự phản ánh đó không chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường, mà còn phải phụ thuộc vào cấu tạo của nhiệt kế. Không có cấu tạo đặc biệt của nhiệt kế (như ống thuỷ ngân bé, bằng thuỷ tinh trong suốt, đặt trên bảng có chia độ) thì không có sự phản ánh đó. Cũng như vậy, nếu chủ thể không có cơ chế để phản ánh thì dù khách quan có tác động thế nào đến đầu óc thì con người vẫn không thâu nhận được. Theo Piajet nhận thức luận truyền thống chỉ quan tâm đến một số kết quả cuối cùng của nhận thức ở trình độ cao, mà không thấy quá trình kiến tạo của nhận thức từ các bậc thấp. Nhận xét đó đúng với trường hợp của Lênin. Nhận thức luận phát sinh của Piajet chứng minh rằng để có cảm giác, chỉ một mình kích thích không tạo ra được. Cơ thể cá thể phải có cái sơ cấu (scheme, còn dịch là đồ thức) mới tiếp nhận được kích thích mà làm ra cảm giác[13]. Trẻ sơ sinh chỉ tiếp nhận cảm giác ở mồm. Người mù thì không có cảm giác về ánh sáng, người điếc thì không có cảm giác về âm thanh. Mác cũng nói phải có cái tai âm nhạc thì mới hiểu âm nhạc. Như thế phản ánh là một quá trình tác động qua lại và phải có tính chủ động của cơ thể thì mới thực hiện được. Bốn là lí thuyết phản ánh của Lênin hoàn toàn phủ nhận cảm giác là có tính “tượng trưng”[14], tức là có tính tín hiệu, nhưng sự thực, cảm giác là tín hiệu gợi ra biểu tượng sự vật hoặc bản thân sự vật thì đó là hiện tượng có tính kí hiệu (symbole). Khả năng tượng trưng của cảm giác cho phép  sử dụng những hình ảnh giản đơn để biểu hiện các nội dung phức tạp. Biểu tượng (trong sách của Lenin từ symbole đều dịch là tượng trưng – TĐS) là phương diện ngôn ngữ của phản ánh, mà theo Marx, ngôn ngữ là “hiện thực trực tiếp của tư duy”, do vậy ý thức không tách khỏi ngôn ngữ trong tư duy. Khi phản ánh, một mặt người ta thu được một hình ảnh của sự vật, và mặt khác là nội dung, ý nghĩa của sự vật đó. Hình ảnh vừa có cội nguồn khách quan, vừa có cội nguồn chủ quan, đóng vai trò như một kí hiệu mang nội dung, ý nghĩa mà nó thể hiện. Hình ảnh của sự vật chỉ là kí hiệu của sự vật; còn ý nghĩa của sự vật lại phụ thuộc vào ngữ cảnh. Do đó mọi phản ánh đều đồng thời phản ánh cả hai mặt đó. Những điều vừa nêu rất quan trọng, bởi vì tuy có nói đến yếu tố chủ quan, nhưng Lênin hoàn toàn chưa thấy cơ chế của sự phản ánh chủ quan, phương tiện, bản thể của phản ánh. Bởi vì Lê nin hiểu phản ánh chỉ ở phương diện kết quả, tức là phương diện coppy, sao chụp, cho nên trong Bút kí triết học ông đã có khi đối lập phản ánh với sáng tạo khi viết “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan.”[15], như thế trong khi nói đúng về bản chất của ý thức thì khái niệm phản ánh ở đây theo ông không bao hàm sáng tạo, nghĩa là có thể biểu diễn bằng công thức: ý thức = phản ánh + sáng tạo, đảo ngược là, phản ánh = ý thức – (trừ đi) sáng tạo. Những khiếm khuyết ấy khi vận dụng để giải thích các hoạt động nhận thức, sáng tạo trong các lĩnh vực cụ thể như văn học nghệ thuật, chẳng hạn thì dễ có ngộ nhận, coi nhẹ chủ thể, coi nhe tính sáng tạo, coi nhẹ vai trò của kí hiệu, biểu tượng…

    Một thời gian dài nhiều người trong chúng ta chỉ bám vào một số câu chữ thiếu chính xác của Lên nin mà hình thành một quan niệm máy móc, giản đơn về phản ánh,  coi đó là lí luận duy nhất đúng về nhận thức, là lí luận về ý thức xã hội, đem vận dụng vào lĩnh vực nghệ thuật, xem nghệ thuật là sự phản ánh coppy đời sống xã hội, gây rất nhiều ngộ nhận và tranh cãi. Một trong những ngộ nhận đó là coi đối tượng của kí là các sự thật, coi đối tượng của tiểu thuyết lịch sử là sự thật lịch sử, mà không thấy trong kí cũng như trong tiểu thuyết lịch sử, sự thật là một loại ngôn ngữ đặc trưng của thể loại dùng để tạo sức thuyết phục cho người đọc, Còn nội dung của các loại văn học đó là các ý nghĩa, các thông điệp của nhà văn. Một lí luận như thế tất nhiên chưa tạo đủ cơ sở khoa học để giải quyết những vấn đề phức tạp như phản ánh trong văn học và nghệ thuật.

    Lí luận nhận thức thế kỉ XX đã cho thấy sự phản ánh có một cơ chế hoàn toàn khác, ý thức tư duy không phải đơn giản là coppy, sao chụp thực tại khách quan. Trước hết, đầu óc con người không có một cái “gương”, “máy ảnh” nào để có thể coppy, sao chụp bất cứ sự vật khách quan nào của thế giới. Khái niệm “gương” hoàn toàn là một ẩn dụ thụ động, không có tính tích cực. Quá trình phản ánh là quá trình của não bộ đem các thông tin thu nhận từ bên ngoài qua các giác quan mà kiến tạo thành ý thức mà chủ thể đóng vai trò tích cực, chủ động, còn thực tiễn đóng vai trò yếu tố kiểm nghiệm. Toàn bộ tâm lí học hiện đại đều khẳng định từ cảm giác đến tri giác, biểu tượng, khaí niệm là quá trình kiến tạo của chủ thể[16]. Cơ sở của nhận thức là hoạt động. Trong hoạt động con người có những sơ cấu (schemes) cho phép nó tiếp nhận theo nguyên tắc đồng hoá thông tin. Một sơ cấu là một mô hình có tổ chức của hành vi; nó phản ánh một cách tương tác đặc biệt với môi trường. Một sơ cấu là bất  cứ cái gì có thể lặp lại và khái quát hoá trong một hành động. Khi thông tin lớn hơn khả năng đồng hoá của sơ cấu thì cơ thể có cơ chế thuận ứng với tác động, hình thành sơ cấu mới để đồng hoá thông tin mới, cứ thế biến đổi mãi sơ cấu và nâng cao trình độ nhận thức của chủ thể. Piajet đã chứng minh hệ thống tri thức con người thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống nhận thức của nó. Lí thuyết tâm lí học hoàn hình cho rằng nhận thức sự vật phụ thuộc vào cái cách mà chúng ta nhìn nhận sự vật. Họ thực hiện nhiều trắc nghiệm cho thấy cách nhìn của chúng ta góp phần kiến tạo nên những khái niệm về sự vật. Cách nhìn chủ quan sẽ phán đoán khác nhau. Chẳng hạn từ  hình dáng các hòn đá, thạch nhũ khách quan trong hang động mà người ta có thể tưởng tượng ra những hình người hình vật (bà tiên, ông phật, con sư tử…) khác nhau tuỳ thuộc vào sức liên tưởng và tưởng tượng.

     Tính chất kiến tạo của tư duy, với tư cách là một vấn đề lí luận, là một bước tiến đánh dấu sự tiến bộ trong lí luận nhận thức. Triết học trước Kant người ta chỉ biết có hai yếu tố: tư tưởng và giới tự nhiên. Engels nói : “Một người chỉ biết giới tự nhiên, một người khác chỉ biết tư tưởng”, rồi hoặc dùng tư tưởng giải thích tự nhiên, hoặc lấy tự nhiên giải thích tư tưởng, và thế là tạo nên hai trường phải triết học duy vật và duy tâm. Nhưng làm thế nào để từ tự nhiên chuyển hoá thành tư tưởng thì chưa được nghiên cứu. Nhận thức cảm tính của con người theo Kant chỉ nhận thức phần cảm tính, còn  bản chất, quy luật là “cái tự nó”, giác quan không nhận thức được, con người muốn nhận thức thì phải dựa vao các phạm trù tiên nghiệm, như không gian, thời gian…từ đó tạo thành những cặp phạm trù đối lập nhị nguyên như cảm tính/ lí tính, hiện tượng/ bản chất, ngẫu nhiên/quy luật, cái riêng/cái chung…Chủ nghĩa Mác trên cấp độ vĩ mô đã diễn giải quá trình tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, trong đó sự cải tạo tự nhiên của con người diễn ra đồng thời với việc con người tự cải tạo chính mình. Sự cải tạo chính mình làm cho con người có khả năng nhận thức. Các nhà tâm lí học đã chứng minh sự hình thành cảm giác, tri giác trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, và cho thấy sự phản ánh là hoạt động tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, trong đó trước tác động của ngoại giới, chủ thể chủ động kiến tạo nên tri thức và ý thức. Từ đó ta có thể hiểu thêm về bản chất của phản ánh.

     Phản ánh luận mác xít đã nói nhiều đến tính năng động chủ quan của con người trong quá trình phản ánh nhận thức. Chẳng hạn nhấn mạnh đến tính lựa chọn, khái quát trong phản ánh. Khi nhận thức, con người biết gạt bỏ cái hiện tượng, chọn cái bản chất; gạt bỏ cái cá biệt, lấy cái chung, gạt bỏ cái ngẫu nhiên lấy cái tất yếu…Nhưng nhận thức đó lấy cái bản chất, cái chung, cái tất yếu như thế nào thì chưa được nói rõ. Thông thường người ta dùng từ “khái quát”. Theo cách hiểu hiện đại thì, thứ nhất, tính năng động của phản ánh không chỉ giản đơn ở thao tác lựa chọn mà còn cả ở khâu kiến tạo. Theo cách hiểu hiện đại thì khi khái quát cái tất yếu, cái chung, cái bản chất cũng không phải là phản ánh coppy giản đơn, mà là kiến tạo ra chúng theo các dữ kiện và cách nhìn nhận của một hệ hình chủ quan nhất định. Chính vì vậy cái gọi là “bản chất”, “tất yếu”, “cái chung” trong thế giới nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội, tinh thần nói riêng, không phải là duy nhất và bất biến. Nói cách khác, cái bản chất, tất yếu, cái chung cũng chỉ là những giả thiết của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định, chờ được thực tiến kiểm nghiệm, chứ không phải hoàn toàn khách quan. Thứ hai, sự phản ánh – kiến tạo như thế đồng thời cũng là sáng tạo, và do đó không có sơ sở để đối lập phản ánh và sáng tạo như Lên nin có lúc đã nói và lâu nay nhiều người người vẫn viện dẫn. Từ đó sự khác biệt giữa khoa học và nghệ thuật hoàn toàn không phải là một bên thì phản ánh còn bên kia thì ngoài phản ánh còn cộng thêm sáng tạo, biểu hiện. Sự khác biệt của khoa học và nghệ thuật thể hiện ở nguyên tắc kiến tạo khác nhau nhằm những mục đích khác nhau. Chẳng hạn nghệ thuật cho phép sử dụng các ấn tượng chủ quan, phản ánh qua hình thức hư cấu, ẩn dụ, còn khoa học thì phản ánh qua các phạm trù, công thức khách quan nhằm tới nhận thức chính xác. Xét trong mỗi thời thì phản ánh khoa học hay nghệ thuật cũng đều phụ thuộc vào những hệ hình nhất định, cho nên cả khoa học lẫn nghệ thuật đều có tính chủ quan. Người ta đã nói đến “bức tranh vật lí về thế giới” và “bức tranh nghệ thuật về thế giới” để chỉ tính chủ quan đó. Bản thân ngôn ngữ, phương tiện để ghi nhận và truyền đạt sự phản ánh cũng mang tính chủ quan, mà giới khoa học gọi là “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”. Ngoài ra, phát hiện khoa học cũng dựa nhiều vào ngẫu nhiên như là các phát hiện về nghệ thuật.

      Phản ánh luận trong tầm nhìn hiện đại hiểu theo tư tưởng kiến tạo không hề mâu thuẫn với các lí thuyết nhận thức luận phát sinh, tâm lí học gestalt, kí hiệu học… và mở ra khả năng tổng hợp để lí giải quá trình chuyển hoá từ thực tại đến ý thức con người có thể làm cơ sở cho việc giải thích các hoạt động sáng tạo, bao gồm cả văn học nghệ thuật.

    Nhưng lí thuyết phản ánh không thể chỉ giải quyết trong phạm vị tâm lí học nhận thức. Bước sang thế kỉ XX, với sự phát triển của ngôn ngữ học, kí hiệu học, với bước “chuyển hướng sang ngữ học”, phản ánh luận cần được xem xét từ phí kí hiệu học và ngữ học.

       Như trên đã nói, lúc sinh thời Marx đã nhận thấy vai trò của ngôn ngữ trong kiến tạo ý thức. Ông nói, ý thức phản ánh tồn tại (ý thức là tồn tại được ý thức), nhưng ý thức không thể có được nếu không có ngôn ngữ (ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy), như thế cũng có nghĩa là kí hiệu là hiện thực trực tiếp của tư duy, tư tưởng. Ngôn ngữ, kí hiệu đóng vai trò hết sức đặc biệt trong sự nảy sinh ý thức của con người. Đây chính là điểu mà Lênin không để ý tới khi giải quyết vấn đề phản ánh, chẳng những thế, ông còn cho rằng kí hiệu, tượng trưng sẽ làm sai lệch vấn đề chân lí.

      Theo nhà văn hoá học người Đức E. Cassirer, các sinh thể đều có hai hệ thông cảm giác. Một là hệ thống giác quan tiếp nhận kích thích của ngoại giới, và một hệ thống phản xạ với các kích thích ấy. Hai hệ thống này tác động qua lại thăng bằng tạo nên đời sống ổn định của sinh vật. Nhưng ở con người ngoài hai hệ thống ấy còn có hệ thông trả lời, đáp trả. Nếu hệ thống phản xạ (reaction) luôn luôn tức thời, thì hệ thống đáp trả, trả lời lại kéo dài, hoà hoãn.  Đó là vì “con người là động vật biết sử dụng kí hiệu (animal symbolicum)”[17], biết tư duy. Kí hiệu khác hẳn tín hiệu, cái sau tồn tại trong thế giới vật lí, kí hiệu là bộ phận của thế giới tinh thần, của thế giới ý nghĩa. Khi con người đã có hệ thống kí hiệu rồi, và tư duy bằng ngôn ngữ, bằng các tên gọi của sự vật, thuộc tính của sự vật và các quan hệ của chúng, “thì con người không còn sống trong vũ trụ vật lí đơn thuần, mà đã sống trong một vũ trụ kí hiệu do nó tạo ra. Ngôn ngữ, thần thoại, nghệ thuật, và tôn giáo…là các bộ phận của cái vũ trụ kí hiệu đó, chúng là những thứ sợi khác nhau dệt nên tấm lưới kí hiệu, tấm lưới dệt bằng kinh nghiệm của con người. Mọi tiến bộ của con người về tư tưởng và kinh nghiệm sẽ khiến cho tấm lưới kí hiệu này ngày càng tinh xảo và bền chắc. Con người không còn có thể trực tiếp đối diện với thực tại được nữa, nó hầu như không thể mặt đối mặt trực quan với thực tại được nữa. Năng lực hoạt động kí hiệu của con người tiến bộ bao nhiêu thì  thực tại vật lí hầu như cũng lùi xa khỏi con người bấy nhiêu. Trên một ý nghĩa nào đó có thể nói, con người xoay xở với chính mình chứ không phảỉ ứng phó, “phản xạ” với bản thân sự vật. Con người khiến cho mình bị bao vây trong các hình thức ngôn ngữ, tưởng tượng nghệ thuật, kí hiệu thần thoại và nghi thức tôn giáo, đến mức ngoài các phương tiện môi giới nhân tạo ấy, con người không thể nhìn thấy cái gì hoặc nhận thức cái gì được nữa. Tình trạng con người trong lĩnh vực lí luận như thế cũng biểu hiện trong lĩnh vực thực tiễn. Dù là trong thực tiễn con người cũng không sống trong thế giới sự thật sắt đá, không sống dựa vào nhu cầu trực tiếp và nguyện vọng của mình, mà sống trong niềm xúc động tưởng tượng, trong hy vọng và lo âu, sợ hãi,, ảo giác và tỉnh ngộ, không tưởng và mộng tưởng.”[18] Ví dụ trong nhà có một người ốm, người ta không quan sát tới bệnh tình, mà nghĩ ngay đến ma quỷ và thần linh và mời thầy về cúng bái. Trong trường hợp này cảm giác không đóng vai trò hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan để đưa tới chân lí. Ý thức khoa học và năng lực nhận thức chân lí khách quan phải xuất hiện rất muộn, khi con người biết đối lập sự thật khách quan với ý thức chủ quan của mình mới có được, nó là một yêu cầu đặc biệt của phản ánh ở giai đoạn phát triển cao của ý thức con người. Suy luận của nhà triết học Đức cho ta thấy, với hệ thống kí hiệu, nhờ cách xa tác động của vật chất trực tiếp, con người mới có được một thế giới tinh thần, ý thức, khái niệm, ý niệm, ảo tưởng, không tưởng. Và với hệ thông kí hiệu con người có một thế giới tinh thần và đơi sống tinh thần ngày càng phát triển và phong phú. Nếu không có kí hiệu có thể nói dứt khoát con người không có đời sống tinh thần. Với các hệ thống ấy, con người có quan niệm không gian, thời gian khác hẳn bản năng thời gian, không gian của con vật, biết phân biệt hiện tại, quá khứ, tương lại, có quan niệm không gian thế giới, không gian vũ trụ, biết phân biệt hiện thực và khả năng, biết kí ức và mơ ước tương lai và sống với tương lai ấy. Như thế, con người không còn phản ánh thế giới chỉ trực tiếp bằng cảm giác mà bằng cả các hệ thống kí hiệu kiến tạo thế giới.  Với năng lực hoạt động kí hiệu, con người kí hiệu hoá toàn bộ thế giới. Mọi sự vật hiện tượng đều có tên và trở thành kí hiệu, chỉ hiệu, biêủ tượng. R. Barthes cho thấy toàn bộ các thời trang, cử chỉ, màu sắc…đều là kí hiệu. Kí hiệu giúp chuyển hoá từ cái có ích thành cái đẹp, cái xấu. Trong sách Những bức thư không có địa chỉ, Plêkhanov từng luận chứng rằng cái có ích có trước cái đẹp. Vì sao thế? Theo chúng tôi đó là vì cái có ích lâu dần trở thành kí hiệu của cái đẹp. Chỉ cần hình thức của cái có ích là trở thành cái đẹp. Với kí hiệu người ta vẽ ra các xã hội không tưởng.  Thế giới tinh thần rộng hơn hẳn thế giới vật chất xung quanh con người. 

    Với hệ thống kí hiệu chúng ta thấy rõ, qua ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học…ý thức con người chưa bao giờ là sự sao chép, phục chế, tái hiện, coppy giản đơn thực tại, không phải bao giờ cũng là hình ảnh tương đồng giản đơn với thế giới khách quan, mà trái lại, ý thức con người đã cải tạo lại, kiến tạo nên ý thức của mình về thực tại. Và muốn nhận thức chân lí con người phải biết chống lại tính chủ quan của mình. Lí luận khoa học là dùng để chống lại các thường thức mà chúng ta quen sống trong đó. Đó là tư tưởng khoa học của Karl Marx. Trong mỗi ngôn ngữ có bức tranh thế giới của riêng nó, khác biệt với ngôn ngữ khác. Bức tranh thế gíơi trong tiếng Pháp khác với bức tranh thế giới trong tiếng Nga, đến lượt mình bức tranh thế giới trong tiếng Việt khác với bức tranh thế giới trong tiếng Trung Quốc. Do khác nhau đó mà người ta rất khó dịch thông thuận từ tiếng này sang tiếng khác mà không đánh mất nhiều nghĩa, và mang tiếng dịch là diệt. Trong khoa học mỗi thời đều có bức tranh thế giới của nó. Ví dụ bức tranh thế giới của vật lí cổ điển khác xa bức tranh thế giới của vật lí hiện đại[19]. Sự phản ánh của thần thoại và tôn giáo đối với hiện thực là các trường hợp đặc biệt, nói như Feuerbach là phản ánh lôn ngược, thì cũng là một sự phản ánh. Còn văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học, theo chúng tôi là sự tư duy về cái khả nhiên[20], tức là phản ánh những khả năng của đời sống, chứ không phản ánh các sự thực, bởi đó là lĩnh vực của lịch sử và báo chí, thông tấn. Mà báo chí, lịch sử cũng không phải bao giờ cũng đều phản ánh sự thật. Tóm lại đến đây chúng ta thấy ngoài các hình thức phản ánh thế giới bằng giác quan, thuộc lĩnh vực tâm lí học, về ý thức xã hội con người còn có hình thức phản ánh bằng ngôn ngữ, một điều mà phản ánh luận của Lênin chưa quan tâm đến.

    “Bước ngoặt ngôn ngữ học” bắt đầu từ nhà triết học Đức G. Frege, người hoài nghi tính xác thực của ngôn ngữ. Trong công trình Cơ sở thuật toán (1884) ông đề nghị phân biệt yếu tố tâm lí với yếu tố logích; nghĩa của từ ngữ phải hiểu trong mệnh đề; và phân biệt khái niệm với khách thể mà khái niệm biểu đạt. Với ba yêu cầu đó ông đã chuyển trọng tâm từ nhận thức luận sang vấn đề ngôn ngữ học. Quan niệm đó được hầu hết các nhà ngữ học lớn thế kỉ XX tiếp nhận. Saussure đối lập ngôn ngữ với lời nói, song khẳng định mối quan hệ không tách rời giữa tư tưởng với ngôn ngữ. “Tư tưởng một khi tách rời khỏi sự biểu đạt của từ ngữ thì sẽ trở thành một mớ hỗn độn, mơ hồ không rõ gì cả.”, “ngôn ngữ có thể ví như một tờ giấy, tư tưởng là mặt chính, còn mặt kia là thanh âm. Chúng ta không thể tách rời mặt này mà không đồng thời tách rời mặt kia, cũng như vậy trong ngôn ngữ chúng ta không thể khiến âm thanh tách rời khỏi tư tưởng, cũng không thể khiến tư tưởng tách rời khỏi âm thanh.” Ông tiến tới khẳng định, tư tưởng phụ thuộc vào ngôn ngữ, cái không có trong ngôn ngữ thì cũng không có trong tư duy. “Ngôn ngữ là một hệ thống”, “các yếu tố của nó có quan hệ liên đới, giá trị của mỗi yếu tố trong đó đều là kết quả của quan hệ tồn tại đồng thời với các yếu tố khác.”, nghĩa là ý nghĩa, giá trị của mỗi yếu tố không phải của tự thân chúng, mà do mối quan hệ với các yếu tố khác quy định. Do đó ý nghĩa do hệ thống quyết định, do nó có quan hệ liên hệ hay đối lập mà có.  Trước đây người ta xem ngôn ngữ là yếu tố của hình thức, là tên gọi của sự vật, là công cụ biểu đạt nội dung phản ánh, nay người ta xem ngôn ngữ là bản chất của văn học, nội dung (ý nghĩa) của văn học là do ngôn ngữ tạo nên. Chẳng những thế, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo. Dĩ nhiên, đó là cái hiện thực mà con người đã nắm được. Hiện thực mới phải do ngôn ngữ mới biểu đạt. Mỗi ngôn ngữ chỉ biểu đạt một hiện thực. Con người cần có rất nhiều (vô số) ngôn ngữ mới có khả năng hiểu được hiện thực trong tính toàn vẹn. Nhà lí luận Pháp R. Barthes khẳng định: “Không có ngôn ngữ thì không có hiện thực.” (Khoái lạc của văn bản), con người phải thông qua ngôn ngữ mới vào được hiện thực, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo, từ đó chủ nghĩa cấu trúc khẳng định: văn học không phản ánh hiện thực, mà kiến tạo hiện thực. Giữa ngôn ngữ và hiện thực có một hố sâu ngăn cách. Barthes nói: “Hoạt động thực tiễn của văn học là một hoạt động tuyệt đối gián tiếp, bất cập vật.”, “đối với nhà văn, từ “viết” là một từ bất cập vật.” nghĩa là không liên can đề thực tại.(Tập tiểu luận về phê bình, 1964, Seul, 140, 149). Điều quan trọng đối với nhà văn là sáng tạo ra một cái biểu đạt, chứ không phải cái được biểu đạt. Theo ông văn học là một trò chơi hữu ích của tâm hồn, dùng để giải phóng ngôn ngữ khỏi tác động quyền lực của ngôn ngữ.” (Giáo trình kí hiêu học, Seul, P. 1978, tr. 16.)[21] . Trong giáo trình rất ngắn về lí luận văn học, nhà lí luận Mĩ J. Culler dựa vào thuyết ngôn ngữ học hành vi, xem văn học là “ngôn ngữ thuật hành” , giống như lời hứa, lời bảo đảm, sáng tạo ra thế giới hư cấu, không phản ánh sự thật của hiện thực nào cả.[22]Lí thuyết hậu cấu trúc khẳng định thêm quan niệm đó bằng nhận định: cái biểu đạt không phải gắn chặt với cái được biểu đạt như hai mặt của một tờ giấy như Saussure khẳng định hồi nào, mà chúng có thể tách rời nhau (J. Lacan nêu ví dụ trẻ con học tiếng, ban đầu chỉ học cái biểu đạt, rất lâu sau mới hiểu được cái được biểu đạt). J. Derrida khẳng định, văn bản viết co ưu thế so với lời nói, trong văn bản viết giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt bị kéo dài và trì hoãn bằng một chuỗi cái biểu đạt, và không chỉ ra cái được biểu đạt xác định. Xem ra như thế lí thuyết cấu trúc ngôn ngữ hoàn toàn cắt rời văn học và hiện thực, phủ nhận hoàn toàn quan hệ phản ánh đối với hiện thực. Nhưng đây là chỗ phân giới giữa phản ánh luận và ý thức luận. Xét về phản ánh, cái biểu đạt tuy bất cập vật, nhưng người ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết những sự thực được phản ánh như Lenin đọc Tolstoi. Cái biểu đạt vẫn phản ánh địa vị, tâm trạng, hiểu biết của nhà văn theo góc nhìn xã hội học, nhưng lại không phải những giá trị tinh thần nhà văn muôn biểu đạt. Do đó, theo tôi, có lẽ phải là ý thức luận của Marx thì mới lí giải được ý nghĩa tinh thần của văn học.

   J. Culler dẫn luận chứng của J. Derrida  để chứng minh rằng quan niệm xem sự thực là cái đã tồn tại, hay sự vật vốn có là cái đã từng tồn tại là không đứng vững, bởi vì kinh nghiệm con người bao giờ cũng phải kinh qua sự trung giới của kí hiệu, mà đã kinh qua kí hiệu thì cái sự vật nguyên lai ấy cũng chỉ là sản phẩm của kí hiệu và vật bổ sung mà thôi. Trong sách Những lời thú tội của mình Roussau cho biết ông muốn viết văn bởi vì lời nói không thể hiện đầy đủ về ông, nhất là cái tôi bên trong thầm kín. Trong sách ấy ông tự thú hồi nhỏ ông ở với bà Warens mà ông gọi bằng “mẹ”, nhưng ông đã rất yêu bà. Khi bà vắng mặt ông hôn lên tấm ga trải giường vì đó là nơi bà đã nằm, ông hôn lên các tấm vải rèm che cửa, vì đó là nơi bà để tay, thầm chí ông nằm trên nền nhà nhà vì nơi đó chân bà bước qua. Ông đã tìm vật thay thế cho sự vắng mặt của bà. Thậm chí khi bà có mặt ông vẫn muốn tìm vật bổ sung. Trong một bữa ăn, khi bà đưa thì thức ăn vào mồm, ông kêu lên là có sợi tóc, khi bà nhả miếng ăn xuống đĩa, ông liền lấy bỏ vào miệng mình. Như thế kí hiệu hay là vật bổ sung đã tạo nên cái vật thực sự tồn tại, như bà Warens mà người ta có cảm giác thật. Như thế có nghĩa là toàn bộ cái hiện thực mà ta cho là khách quan chẳng qua là sản phẩm do kí hiệu tạo nên (Dẫn luận rất ngắn, tr. 13). Ở đây bà Warens là cội nguồn của phản ánh, mà kí hiệu, vật thay thế hay bổ sung là sự kiến tạo, tức sự phản ánh. Không có cội nguồn thì không có phản ánh. Có điều đó không phải là sự phản ánh giống như thật, không phải sự sao chép, chụp ảnh, coppy như chúng ta thường hiểu, nhất là trong lĩnh vực xã hội và nhân văn.

 

Văn học trong quan hệ với hiện thực, văn học phản ánh hiện thực là phản ánh các hiện tượng mang nghĩa của hiện thực, chứ không phải phản ánh hình ảnh hiện thực hay “sự thật hiện thực”. Một thời theo cách hiểu của Lenin, “ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, từ đó độc tôn chủ nghĩa hiện thực, hình ảnh càng giống (phù hợp) với hiện thực thì càng chân thực, hợp với chân lí, mà quên rằng, hình ảnh cũng chỉ là kí hiệu, mà kí hiệu thì có khả năng phiên dịch, biến đổi thành kí hiệu khác. Các chi tiết hiện thực, các tính cách, nhân vật…như F. Engels yêu cầu đối với chủ nghĩa hiện thực, thực ra chỉ là các kí hiệu của hiện thực. Nhầm lẫn kí hiệu với nội dung, ý nghĩa của kí hiệu là điều không thể chấp nhận. Chủ nghĩa hiện thực về thực chất chỉ là lí thuyết về ngôn ngữ (kí hiệu) hiện thực của một trào lưu văn học mà thôi, hoàn toàn không có ưu thế nào so với ngôn ngữ nghệ thuật của các trào lưu khác. Do đó con vật, đồ vật, các kí hiệu phi hiện thực đều có thể là kí hiệu biểu đạt ý nghĩa về con người. Văn hoc không giản đơn phản ánh các kí hiệu của hiện thực, sáng tạo những cái biểu đạt, mà còn phản ánh các ý nghĩa sâu xa, phong phú của hiện thực mà thực tiễn phơi bày ra cho con người.

Toàn bộ nhưng gì nêu trên cho thấy, phản ánh luận với tư cách là lí luận nhận thức đã chỉ ra được cội nguồn hiện thực của văn học, là một trong nhiều lí thuyết nhận thức và do đó có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định đối với lí thuyết nghệ thuật. Tuy nhiên nó vốn có rất nhiều hạn chế và ngộ nhận mà chúng ta đã thể nghiệm nhiều năm qua thực tiễn nhận thức và sáng tạo, mà chủ yếu là không giải thích được cơ chế kiến tạo ý thức của con người bằng ngôn ngữ. Ngày nay trong bối cảnh nhiều lí thuyết ngữ học  kí hiệu học phát triển, chúng ta không nên coi đó là lí thuyết duy nhất để giải thích về nghệ thuật. Muốn trở về với chủ nghĩa Mác thì nên coi trọng ý thức luận của Karrl Marx với nội dung kiến tạo và đặt nó trong bối cảnh liên hệ sâu sắc của các khoa học nhân văn hiện đại.

 

  Hà Nội,  2012.

   TĐS. 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


[1] “Mimesis” không chỉ có thể dịch là bắt chước, mô phỏng, phục chế, mà còn dịch là tái hiện.

[2] Werner Heisenberg. Vật lí và triết học – cuộc cách mạng trong khoa học hiện đại, nxb Tri thức, Hà Nội, 2009, Lời giới thiệu của David Lindley, tr. 18.

[3] V. I. Lenin. Bút kí triết học, nxb Sự thật, Hà Nội, 1963,

[4] M. H. Abrams. The Mirror and the Lamp: Romantic Theory and the Critical Tradision. Oxford University Press, 1953, Bản dịch Trung văn của nxb Đai học Bắc Kinh, 1992.

[5] C. Mác và F. Ăngghen. Hệ tư tưởng Đức, Phần thứ nhất, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1962., tr. 18

[6] C. Mác. Tư bản luận.

[7] V. Lênin. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phns, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr. 20

[8] V. Lênin, Tài liệu đã dẫn, tr. 36

[9] V. Lênin, Tài liệu đã dẫn, tr. 134, chúng tôi nhấn mạnh. Các trường hợp sau đều thế.

[10] S. L. Rubinstein. Những vấn đề tâm lí học đại cương, M., 1973, tr. 311.

[11] A. N. Leonchiev. Chuyển dẫn từ sách: S. D. Smirnov. Tâm lí học hình ảnh, M., 1985. Bản dịch Trung văn của nxb Đại học nhân dân, Bắc Kinh, 1990, tr. 5.

[12] Xem Todor Pavlov, chuyển dẫn từ sách: Goranov. Hình tượng văn học như là quá trình. dịch từ tiếng Bulgari, M., 1970.

[13] J. Pịajet. Nguyên lí nhận thức luận phát sinh, Bản dịch của Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1996.

[14] Thuật ngữ symbol có từ thời cổ đại HyLạp, đa nghĩa, có thể dịch là kí hiệu, biểu trưng, tượng trưng, biểu tượng. Ở đay phải hiểu là kí hiệu, biểu tượng. Dịch như trong sách của nxb Sự thật là lệ thuộc vào cách dịch của người Tầu, không đúng với tiếng Việt.

[15] V. Lênin. Bút kí triết học, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1963, tr. 235. Bản Trung văn dịch: không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà đông thời sáng tạo ra thế  giới khách quan.

[16] Patrics H. Miler. Các thuyết về yâm lí học phát triển. Vũ Thị Chín lược thuật, nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003, tr. 14.

[17] Enest Cassirer. Bàn về con người. Bản dịch tiếng Trung Nhân luận của Can Dương, nxb.  Tây Uyển, Bắc Kinh, 1994, tr. 46.

[18] E. Cassirer. Tài liệu đã dẫn, tr. 44 – 45.

[19] Điều này chỉ đọc tác phẩm Từ xác định đến bất định của F. David Peat, do GS Phạm Việt Hưng dịch là thấy rõ. nxb. Tri thức, Hà Nội, 2011

[20] Trần Đình Sử. Văn học là sự tư duy về cái khả nhiên. Báo Văn nghệ.

[21] Chuyển dẫn sách Thi học hình tượng của Triệu Viêm Thu,  nxb KHXH TQ, Bắc Kinh, 2004, tr. 60, 61.

[22] Xem Nhập môn lí luận văn học đương đại, nxb. Liêu Ninh, 1998, tr. 99.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s